Nghịch lý của ngành chè:
Thế giới không thiếu chè, nhưng đang thiếu chè ngon đúng nghĩa, những sản phẩm được làm tử tế, có bản sắc, có thể truy nguyên và xứng đáng để trân trọng. Ở Việt Nam, nghịch lý hiện rõ, người bán than khó tìm chè đạt chất lượng, nhà sản xuất loay hoay đầu ra, nông dân bối rối, phó mặc thời tiết và thị trường. Theo các báo cáo tổng hợp giai đoạn gần đây, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia xuất khẩu chè lớn của thế giới, tuy nhiên phần lớn sản lượng vẫn ở dạng nguyên liệu giá thấp, phục vụ chế biến tiếp ở nước ngoài. Giá trị gia tăng vì thế không nằm lại nơi trồng chè, cũng không quay về với người làm chè. Giữa vòng xoáy ấy, cây chè vẫn lặng lẽ đứng đó, người làm chè âm thầm chịu đựng, chén chè đến tay người thưởng thức ngày càng xa nguồn cội, không hẳn vì thiếu kỹ thuật, mà vì sự đứt gãy mang tính hệ thống.

Máy vò chè
Căn bệnh hệ thống, bốn đứt gãy cốt lõi:
Căn bệnh trăm năm của chè Việt không nằm ở một công đoạn riêng lẻ, mà nằm ở sự đứt gãy của cả chuỗi giá trị.
Thứ nhất, đứt gãy giữa trồng và chế biến. Nông dân chủ yếu bán lá tươi, mất quyền kiểm soát chất lượng và thời điểm thu hái. Nhiều vùng chè quý bị khai thác thiếu chuẩn, khiến giá trị hương vị và tinh chất suy giảm đáng kể.
Thứ hai, đứt gãy giữa chế biến và tiêu dùng. Sản phẩm thiếu truy xuất rõ ràng, người uống khó biết chè đến từ đâu, được làm theo quy trình nào, tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn ra sao, niềm tin vì thế bị bào mòn theo thời gian.
Thứ ba, đứt gãy giữa sản xuất và thị trường. Sản lượng lớn nhưng phân khúc cao cấp lại nhỏ, dư thừa ở đáy chuỗi, khan hiếm ở đỉnh chuỗi, chè thì nhiều mà chè tử tế lại hiếm.
Thứ tư, đứt gãy giữa giá trị thật và câu chuyện kể. Câu chuyện tiếp thị thường đi trước chất lượng, ngôn từ mỹ miều che lấp câu hỏi cốt lõi. Chén chè này từ đâu, được làm như thế nào, mang lại giá trị gì cho người trồng, người làm và người uống. Những câu chuyện hào nhoáng lay động chốc lát rồi tan biến. Chè không cần diễn, chè cần được hiểu đúng.
Nỗi sợ tập thể và ảo tưởng danh xưng:
Trong nhiều thập kỷ, chè Việt tự chấp nhận vị trí thấp trong chuỗi giá trị dù sở hữu vùng nguyên liệu đa dạng, giống chè quý, khí hậu phù hợp, lịch sử và văn hóa uống chè lâu đời. Rào cản lớn nhất không phải kỹ thuật, mà là tâm lý sợ thay đổi. “Khó lắm”, “không làm được đâu” dần trở thành lối mòn tư duy. Song song đó là hiện tượng danh xưng dễ dãi, mạnh ai nấy làm, thiếu chuẩn mực chung, trong khi chè vốn là kết tinh của thời gian và kỷ luật, không phải sân khấu để phô diễn danh hiệu.
(Sông sâu tĩnh lặng, lúa chín cúi đầu.)
Phương thuốc, làm thật, kể đúng, kết nối bền
Phương thuốc cho chè Việt không nằm ngoài ngành chè, mà nằm trong cách đối xử với cây chè và con người làm chè.
Trước hết là xây dựng chuỗi giá trị khép kín. Cần liên kết người trồng, người chế biến và người phân phối bằng những mô hình hợp tác rõ ràng. Khi chất lượng được kiểm soát từ gốc, giá trị sẽ tự khắc tăng lên.
Tiếp theo là minh bạch và truy xuất. Nguồn gốc, quy trình và tiêu chuẩn cần được thể hiện công khai. Minh bạch không làm chè yếu đi, mà giúp chè đứng vững lâu dài.
Thứ ba là kể chuyện thật trên nền tảng số. Không cần phô trương, chỉ cần cho người tiêu dùng thấy chè được làm như thế nào, bởi ai và trong điều kiện gì. Thế hệ trẻ trân trọng sự thật hơn những lời quảng cáo hoa mỹ.
Cuối cùng là hợp tác ngành và thống nhất chuẩn mực. Cần có tiếng nói chung về tiêu chuẩn, thuật ngữ và phân hạng để tránh tình trạng ai cũng tự xưng là số một. Khi nền tảng chung rõ ràng, mỗi đơn vị mới có thể phát triển bản sắc riêng của mình.
Lời kết
Chè Việt không thiếu tiềm năng, chè Việt chỉ thiếu sự tử tế đồng bộ. Một chén chè làm đúng không giúp giàu nhanh, nhưng nuôi dưỡng niềm tin, nhân cách và nội lực dân tộc. Trân trọng cây chè, trân trọng người làm chè và trân trọng chính mình trong từng ngụm chè.
Xem thêm bài viết tại facebook Quỷ Trà Cốc: https://www.facebook.com/quytracoc?locale=vi_VN



